Soạn văn 11 ngắn nhất bài: Ôn tập phần văn học

Soạn bài: Ôn tập phần văn học - ngữ văn 11 tập 1 ngắn gọn nhất. Nhằm giúp học sinh giảm bớt thời gian soạn bài nhưng vẫn đảm bảo nắm đủ ý, baivan giới thiệu các em tổ hợp bài soạn cực ngắn, siêu ngắn và ngắn nhất. Từ đó, học sinh có thêm lựa chọn bài soạn phù hợp với của mình. Soạn Ôn tập phần văn học cực ngắn - baivan

Soạn văn 11 ngắn nhất bài: Ôn tập phần văn học
Câu trả lời:


I. Câu hỏi trong bài học

Câu 1: Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 có sự phân hóa phức tạp thành nhiều bộ phận, nhiều xu hướng như thê nào? Nêu những nét chính của mỗi bộ phận, mỗi xu hướng đó.

Hãy làm rõ nguồn gốc sâu xa của tốc độ phát triển hết sức nhanh chóng của văn học thời kì đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945

Câu 2: Tiểu thuyết hiện đại khác với tiểu thuyết trung đại như thế nào? Những yếu tố nào của tiểu thuyết trung đại tồn tại trong tiểu thuyết Cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh?

Câu 3: Phân tích tình huống trong các truyện ngắn Vi hành (Nguyễn Ái Quốc), Tinh thần thể dục (Nguyễn Công Hoan), Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), Chí Phèo (Nam Cao)

Câu 4: Đặc sắc về nghệ thuật của các truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), Chí Phèo (Nam Cao)

Câu 5: Những nét chính trong nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng thể hiện qua đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia. Qua đoạn trích này, Vũ Trọng Phụng đã tập trung phê phán điều gì của xã hội "thượng lưu" thành thị những năm trước Cách mạng tháng Tám năm 1945?

Câu 6: Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng được thể hiện như thế nào qua việc triển khai và giải quyết mâu thuẫn kịch trong đoạn  Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Trích Vũ Như Tô)?

Câu 7: Bình luận quan điểm nghệ thuật của Nam Cao: "Văn chương không cần những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có..." (Đời thừa)

II. Soạn bài siêu ngắn: Ôn tập phần văn học

Câu 1: Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 có sự phân hóa phức tạp thành nhiều bộ phận:

Phân hóa thành hai bộ phận:

1. Bộ phận văn học công khai: 

  • Gồm các sáng tác được đăng tải và xuất bản công khai
  • Có tính dân tộc và có tư tưởng lành mạnh nhưng không có được ý thức cách mạng và tinh thần chống đối trực tiếp chính quyền thực dân

2. Bộ phận văn học phát triển bất hợp pháp và nửa hợp pháp (không công khai):

  • Bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, phải lưu hành bí mật.
  • Sản phẩm của các nhà văn – chiến sĩ
  • Bộ phận văn học cách mạng. .
  • Trở thành dòng chủ của văn học VN sau này

Phân hóa thành nhiều xu hướng khác nhau: 

  • Văn học lãng mạn là tiếng nói của cá nhân, khẳng định cái tôi, lạc lõng với thời cuộc mà tìm về với những cái đẹp của quá khứ, của tình yêu
  • Văn học hiện thực: phản ánh hiện thực của xã hội thuộc địa nửa phong kiến thối nát, xấy xa, bất công

Văn học thời kì này phát triển với tốc độ hết sức nhanh chóng, phi thường và mau lẹ vì:

  • Do thúc bách của thời đại
  • Do sức sống nội tại của nề văn học dân tộc.
  • Do sự thức tỉnh ý thức cá tôi cá nhân.
  • Văn chương đã trở thành nghề kiếm sống.

Câu 2: Phân biệt tiểu thuyết hiện đại với tiểu thuyết trung đại:

Tiểu thuyết trung đại:

  • Sử dụng cả chữ Hán và chữ Nôm.
  • Các tiểu thuyết chú ý tới chi tiết, sự việc
  • Cốt truyện của tiểu thuyết đơn giản, đơn tuyến. 
  • Vì chú trọng vào chi tiết, sự việc nên tâm lí và dòng tâm trạng, cảm xúc của nhân vật chỉ là sơ lược. 
  • Các truyện thường được kể theo ngôi thứ 3, kết cấu theo lối chương hồi

Tiểu thuyết hiện đại:

  • Được viết bằng chữ quốc ngữ - chữ của dân tộc 
  • Các tác phẩm đặc biệt chú ý tới việc khai thác thế giới bên trong của nhân vật
  • Truyện có thể được kể theo trình tự thời gian tuyến tính hoặc có thể bị đảo lộn thời gian
  • Nhân vật được xây dựng là con người phức tạp, đa dạng trong suy nghĩ, cảm xúc
  • Ngôi kể trong truyện đa dạng: ngôi thứ ba, ngôi thứ nhất hoặc kết hợp nhiều ngôi kể trong cùng một tác phẩm
  • Kết cấu theo lối chương, đoạn

Những yếu tố của tiểu thuyết trung đại tồn tại trong tiểu thuyết Cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh:

  • Có khai thác tâm lí nhân vật Trần Văn Sửu .
  • Truyện được kể theo ngôi thứ 3.
  • Truyện được kể theo trình tự thời gian tuyến tính.

Câu 3:  Tình huống trong các truyện ngắn Vi hành (Nguyễn Ái Quốc), Tinh thần thể dục (Nguyễn Công Hoan), Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), Chí Phèo (Nam Cao):

Vi hành: Nhiều nhầm lẫn được xây dựng đan xen

=> Cặp trai gái trên chuyến tàu nọ đã nhầm lẫn tác giả với vua Khải Định; người Pháp nhầm tưởng tất cả những người da vàng mũi tẹt đều là Khải Định.

Tinh thần thể dục: Hàng loạt những mâu thuẫn được dựng nên

=> Giữa mục đích tốt đẹp của việc xem trận đấu bóng đá với tai họa mà nó mang tới cho người nông dân. Giữa nội dung và hình thức của thông báo

Chữ người tử tù: Khi đặt các nhân vật tử tù - viên quản ngục - thầy thơ lại, người xin chữ - người cho chữ trong một mối quan hệ và hoàn cảnh éo le, đầy mâu thuẫn.

=> Tên tử tù là người cho chữ còn viên quản ngục lại là người khúm núm, sợ sệt xin chữ

Chí phèo: Khi đặt nhân vật liên tục vào những bi kịch,  mâu thuẫn về thân phận,

=> Sự đối lập giữa khát vọng sống, khát vọng được làm người lương thiện với những định kiến hẹp hòi của xã hội

Câu 4: Đặc sắc về nghệ thuật của các truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), Chí Phèo (Nam Cao)

Hai đứa trẻ - Thạch Lam:

  Thuộc dòng văn học lãng mạn, truyện không có cốt truyện mà chỉ là được bắt đầu bằng những cảm xúc mơ hồ, mong manh của nhân vật

  Điểm nhìn trần thuật được đặt vào nhân vật Liên

  Xây dựng thành công sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối

  Ngôn ngữ nhẹ nhàng, giàu chất thơ, tinh tế, mang đậm phong cách của Thạch Lam

Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân:

  Tình huống truyện độc đáo, đặt các nhân vật vào một cuộc gặp gỡ ở nơi đặc biệt - ngục tù

  Xây dựng cảnh tượng hiếm trước nay chưa từng có: cảnh cho chữ (vị thế của các nhân vật hoàn toàn bị đảo lộn)

  Ngôn ngữ truyện giàu sức tạo hình, vừa cổ kính, vừa hiện đại

Chí Phèo - Nam Cao

  Cốt truyện hấp dẫn, độc đáo, có mở đầu - diễn biến - cao trào và giải quyết nút thắt rất logic, hợp lí.

  Xây dựng thành công nhân vật Chí Phèo 

  Điểm nhìn và giọng điệu trần thuật biến đổi đa dạng, linh hoạt

  Nghệ thuật miêu tả tâm lí bậc thầy với ngòi bút lách sâu vào tâm lí nhân 

Câu 5: Những nét chính trong nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng:

  Thể hiện qua nhan đề trào phúng "Hạnh phúc của một tang gia"

  Tình huống trào phúng: Cái chết của cụ tổ cố Hồng lại chính là niềm hạnh phúc cho lũ con cháu.

  Nhân vật trào phúng:  hệ thống các nhân vật trào phúng cả bên trong tang quyến lẫn bên ngoài tang quyến. 

  Cảnh tượng trào phúng: Cảnh hạ huyệt ở cuối tác phẩm đã hoàn tất bức tranh của xã hội thương lưu giả dối, thối nát.

Qua đoạn trích này, Vũ Trọng Phụng đã tập trung phê phán sự đồi bại, thối nát, lố lăng của xã hội.

Câu 6: Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng được thể hiện:

  • Mâu thuẫn giữa Vũ Như Tô với cường quyền
  • Mâu thuẫn giữa người nghệ sĩ và nhân dân

=> Cách giải quyết những mâu thuẫn: Nhân dân đã nổi dậy chống chính quyền, Vũ Như Tô bị giết, Cửu Trùng Đài bị thiêu rụi

=> Cuối cùng thì cường quyền cũng bị đánh bại, người nghệ sĩ sẽ chết thảm và những công trình nghệ thuật cũng sẽ bị thiêu rụi nếu như nghệ thuật không gắn với lợi ích của nhân dân, phục vụ nhân dân.

Câu 7: "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có". 

Bài viết tham khảo

Nam Cao là một nhà văn hiện thực lớn, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn, có đóng  góp quan trọng đối với quá trình hiện đại hóa truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam.Ông có quan điểm nghệ thuật sâu sắc, tiến bộ đạt được thành tựu xuất sắc, ông cũng là nhà văn có phong cách độc đáo. Trong truyện ngắn đời  thừa  Nam Cao viết: " Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có". 

Câu nói ngắn gọn nhưng đã thâu tóm những yêu cầu thật là gắt gao, nghiêm túc đối với người sáng tác văn chương. Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một kiều mẫu đưa cho là cách diễn tả hình ảnh, ám chỉ thứ văn chương đẽo gọt, khuôn sáo, hời hợt, một thứ văn chụp ảnh hoặc minh họa giản đơn. Người thợ dù là người thợ khéo tay thì cùng chỉ sản xuất ra những thành phẩm hàng loạt theo mẫu mã có sẵn, dù có khéo léo cùng chỉ là một hình thức bắt chước, theo khuôn mẫu. Lao động của nhà văn thì khác hẳn. Đó là quá trình nghiền ngẫm, khám phá, tìm tòi những nội dung mới và hình thức diễn tả mới để tạo ra những sản phẩm độc nhất vô nhị của riêng mình, mang bản sắc độc đáo của từng nghệ sĩ. Trong một truyện ngắn khác (truyện Những chuyện không muốn viết), Nam Cao cũng đã diễn đạt một cách thật là đặc thù hình ảnh lao động của nghề văn: “Cái nghề văn kị nhất là cái lối thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào" tức là nó tối kị sự sao chép, bắt chước. Với một yêu cầu thật nghiêm khắc về nghề, nhà văn quan niệm: “Văn chương chỉ dung nạp những ai biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, sảng tạo những cái gì chưa có”.

Đúng vậy. Mọi nghệ sĩ chân chính, có tài năng đều khao khát sáng tạo ra được những tác phẩm chân chính, sâu sắc. Nhưng không bao giờ họ bằng lòng với lối sao chép, rập khuôn hay phản ánh hiện thực cuộc sống trên bề mặt của nó. Nhà văn phải là người có cái nhìn nhạy bén và sâu xa hơn người để phát hiện những vấn đề sâu kín ở bề sâu của đời sống để đem đến cho người đọc những khía cạnh mới, những vấn đề mới đầy bất ngờ, sâu sắc, thú vị, có khả năng đánh thức vào trí tuệ trái tim, làm phong phú tâm hồn, thậm chí có thể làm thay đổi những thói quen, những nếp nghĩ thông thường. Mỗi sáng tạo của một nhà văn tài năng phải là một tìm tòi mới, một khám phá mới. 

Đọc Nam Cao, ta được tiếp nhận một phong cách nghệ thuật thật là độc đáo, mới lạ: độc đáo từ cách phát hiện đề tài, xử lí đề tài đến hành văn, giọng điệu, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ… Đến cả cái tên của nhấn vật mà ông chon lựa cũng chẳng giống ai. Đó không phải là những Lan, những Ngọc, những Nhung, những Tuyết… mà là Lang Rận, Chí Phèo, Đĩ Chuột; là Lê Văn Rự, Trạch Văn Đoành… những cái tên mà chính tác giả cũng thấy nó như chọc vào lỗ tai. Cả tên các tác phẩm nhiều khi nghe cũng thật là ngộ nghĩnh (Rình trộm, Tư cách mõ, Thôi, đi về…).

Tuy nhiên, cái độc đáo của Nam Cao bộc lộ chủ yếu ở cách thức nhà văn đi sâu, tìm tòi, khám phá và diễn tả cái bề sâu của đời sống hiện thực. Cũng như các nhà văn hiện thực khác, ngòi bút của ông chủ yếu cũng hướng tới những con người bần cùng, khốn khổ. ông không hề làm ngơ, hờ hững trước chuyện rách áo, đói cơm vốn là một hiện thực phổ biến thời bấy giờ. Nhiều chuyện ông viết về miếng cơm, manh áo thật cảm động, xót xa, có thể làm rơi nước mắt… Nhưng trung tâm cảm hứng của ngòi bút Nam Cao chủ yếu hướng về nỗi khổ đau, vất vả về đời sống tinh thần, những nỗi đau xót âm thầm mà đữ dội, những bi kịch nội tâm, những xung đột giằng xé trong từng con người, từng số phận, giữa cái xấu và cái tốt, cái cao thượng và cái thấp hèn; cái nhân hậu vị tha và cái ích kỉ, độc ác…

Ít có ngòi bút nào lách sâu đến chỗ tận cùng của xung đột âm thầm mà dữ dội ấy như ngòi bút của Nam Cao. Ông ít miêu tả trực tiếp những xung đột và đấu tranh giai cấp trên bề mặt của đời sống, ông thiên về diễn tả những bi kịnh nội tâm với biết bao giằng xé, cắn rứt, tủi nhục, ân hận trong từng con người. Đừng nghĩ rằng chỉ những trí thức tiểu tư sản như Thứ (Sống mòn), như Điền (Trăng sáng), như Hộ (Đời thừa)… mới có bi kịch nội tâm, mới có những vật lộn, ray rứt, ân hận… Ngay cả Chí Phèo, một con người đã mất gần hết nhân tính, lúc tỉnh rượu cũng nhận ra một trạng thái dường như ăn năn, lão Hạc xung quanh chuyện bán con chó vàng cũng là cả một sự giằng xé âm thầm, dai dẳng… và khi đã bán rồi thì lão khóc hu hu vì khổ đau, ân hận. Lão không chỉ tiếc thương con chó, lão còn ân hận cắn rứt không thôi vì đã nỡ đánh lừa một con chó.

Ít có ai phát hiện, thấu hiểu và diễn tả tinh tế nỗi đau khổ, dày vò về tinh thần, những vẻ đẹp bên trong của những con người khôn khổ, tội nghiệp… như ngòi bút của Nam Cao.

III. Soạn bài ngắn nhất: Ôn tập phần văn học

Câu 1: Bộ phận văn học phát triển hợp pháp (Những tác phẩm này vẫn có tính dân tộc và có tư tưởng lành mạnh nhưng không có được ý thức cách mạng và tinh thần chống đối trực tiếp chính quyền thực dân) 

Bộ phận văn học phát triển bất hợp pháp và nửa hợp pháp (không công khai) là sản phẩm của các nhà văn – chiến sĩ. Đây là bộ phận văn học cách mạng

=> Văn học thời kì này phát triển với tốc độ hết sức nhanh chóng, phi thường và mau lẹ là do thúc bách của thời đại, sức sống nội tại của nề văn học dân tộc, sự thức tỉnh ý thức cá tôi cá nhân và văn chương đã trở thành nghề kiếm sống.

Câu 2: Sự khác biệt giữa tiểu thuyết trung đại và tiểu thuyết hiện đại:

Tiểu thuyết trung đại: sử dụng cả chữ Hán và chữ Nôm, các tiểu thuyết chú ý tới chi tiết, sự việc; cốt truyện của tiểu thuyết đơn giản, đơn tuyến; dòng tâm lí và dòng tâm trạng, cảm xúc của nhân vật chỉ là sơ lược. Các truyện thường được kể theo ngôi thứ 3, kết cấu theo lối chương hồi.

Tiểu thuyết hiện đại: Được viết bằng chữ quốc ngữ - chữ của dân tộc; khai thác thế giới bên trong của nhân vật; truyện có thể được kể theo trình tự thời gian tuyến tính hoặc có thể bị đảo lộn thời gian; nhân vật được xây dựng phức tạp, đa dạng trong suy nghĩ, cảm xúc. ngôi thứ ba, ngôi thứ nhất, kết cấu theo lối chương, đoạn.

Những yếu tố của tiểu thuyết trung đại tồn tại trong tiểu thuyết Cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh: đi sâu khai thác sự phức tạp trong cảm xúc nhân vật, kể theo ngôi thứ 3.

Câu 3:  Tình huống trong:

- Vi hành: nhiều nhầm lẫn được xây dựng đan xen. Cặp trai gái trên chuyến tàu nọ đã nhầm lẫn tác giả với vua Khải Định; người Pháp nhầm tưởng tất cả những người da vàng mũi tẹt đều là Khải Định.

- Tinh thần thể dục: Hàng loạt những mâu thuẫn được dựng nên. Giữa mục đích tốt đẹp của việc xem trận đấu bóng đá với tai họa mà nó mang tới cho người nông dân. Giữa nội dung và hình thức của thông báo.

- Chữ người tử tù:  Khi đặt các nhân vật tử tù - viên quản ngục - thầy thơ lại, người xin chữ - người cho chữ trong một mối quan hệ và hoàn cảnh éo le, đầy mâu thuẫn. Tên tử tù là người cho chữ còn viên quản ngục lại là người khúm núm, sợ sệt xin chữ.

- Chí phèo:  Khi đặt nhân vật liên tục vào những bi kịch,  mâu thuẫn về thân phận, Sự đối lập giữa khát vọng sống, khát vọng được làm người lương thiện với những định kiến hẹp hòi của xã hội.

Câu 4: Đặc sắc về nghệ thuật của các truyện ngắn

- Hai đứa trẻ: truyện không có cốt truyện, bắt đầu bằng những cảm xúc mơ hồ, mong manh của nhân vật. Điểm nhìn trần thuật được đặt vào nhân vật Liên, Xây dựng thành công sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, Ngôn ngữ nhẹ nhàng, giàu chất thơ, tinh tế.

- Chữ người tử tù: Tình huống truyện độc đáo, xây dựng được cảnh tượng hiếm trước nay chưa từng có, ngôn ngữ truyện giàu sức tạo hình, vừa cổ kính, vừa hiện đại.

- Chí Phèo: Cốt truyện hấp dẫn, độc đáo, xây dựng thành công nhân vật Chí Phèo, giọng điệu trần thuật biến đổi đa dạng, linh hoạt:, miêu tả tâm lí bậc thầy với ngòi bút lách sâu vào tâm lí nhân vật.

Câu 5: Nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng thể hiện qua nhan đề trào phúng "Hạnh phúc của một tang gia", tình huống trào phúng (Cái chết của cụ tổ cố Hồng lại chính là niềm hạnh phúc cho lũ con cháu), Nhân vật trào phúng  (hệ thống các nhân vật trào phúng cả bên trong tang quyến lẫn bên ngoài tang quyến); Cảnh tượng trào phúng (Cảnh hạ huyệt ở cuối tác phẩm)

=> Phê phán sự đồi bại, thối nát, lố lăng của xã hội.

Câu 6: Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng được thể hiện qua mâu thuẫn giữa Vũ Như Tô với cường quyền và giữa người nghệ sĩ và nhân dân. Cuối cùng cách giải quyết những mâu thuẫn là nhân dân đã nổi dậy chống chính quyền, Vũ Như Tô bị giết, Cửu Trùng Đài bị thiêu rụi

=> Cái kết hợp lí, logic để kết thúc những mâu thuẫn

Câu 7: "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay….sáng tạo những cái gì chưa có".  

Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận

Thân bài: 

a) Giới thiệu tác giả

b) Giới thiệu tác phẩm Đời Thừa

c) Giải thích ý kiến

Câu nói được trích từ lời của nhân vật Hộ - người nghệ sĩ với khao khát lớn lao nhưng lại bị cuốn chân bởi gánh nặng của cơm áo gạo tiền, trong tác phẩm Đời thừa của Nam Cao.

"Văn chương không cần những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho"

"Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có..."

=> Khẳng định và đề cao giá trị của sự sáng tạo từ người nghệ sĩ. Người nghệ sĩ chân chính là một người phải lao động không ngừng, làm mới mình, tìm ra những đề tài, cách phản ánh hiện thực mới mẻ chứ không thể nào là sự dập khuôn, máy móc, lặp lại chính mình được.

d) Bình luận ý kiến

Người nghệ sĩ chân chính không phải là người bắt chước giỏi nhất mà phải là người biết rung động thực sự, không chỉ phản ánh hiện thực như chính sự tồn tại của nó mà sự phản ánh ấy còn phải mang cả dấu ấn cá nhân của mình.

Người nghệ sĩ chân chính cần phải lao động nghệ thuật một cách nghiêm túc và sáng tạo không ngừng để không lặp lại người khác, cũng không lặp lại chính mình. 

Nói sáng tạo nhưng không có nghĩa đó là sự bịa đặt, dựng chuyện mà sự sáng tạo ấy phải là kết quả của quá trình tìm tòi, học hỏi, đào sâu, suy nghĩ và nghiền ngẫm về cuộc đời, về con người.

Kết bài: Khẳng định lại tính đúng đắn trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao

IV. Soạn bài cực ngắn: Ôn tập phần văn học

Câu 1: Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 có sự phân hóa phức tạp thành nhiều bộ phận:

  • Hai bộ phận văn học là Bộ phận văn học phát triển hợp pháp (công khai) và Bộ phận văn học phát triển bất hợp pháp và nửa hợp pháp (không công khai)

Nguyên nhân khiến văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945 phát triển với tốc độ hết sức nhanh chóng do:

1. Thời đại

2. Sức sống nội tại

3. Sự thức tỉnh ý thức cái tôi cá nhân

4. Văn chương đã trở thành nghề kiếm sống. 

Câu 2: Sự khác nhau của tiểu thuyết trung đại >< hiện đại:

  Chữ Hán, Nôm >< Chữ Quốc ngữ

  Chú ý tới chi tiết, sự việc >< chú ý tới việc khai thác thế giới bên trong của nhân vật

  Cốt truyện đơn giản, đơn tuyến >< Kể theo trình tự thời gian tuyến tính, có thể bị đảo lộn thời gian

  Ngôi thứ ba >< Ngôi kể trong truyện đa dạng: ngôi thứ ba, ngôi thứ nhất

  Những yếu tố của tiểu thuyết trung đại tồn tại trong tiểu thuyết Cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh: khai thác tâm lí, kể theo ngôi 3, trình tự thời gian tuyến tính.

Câu 3:  Tình huống truyện của các bài:

  Nhiều nhầm lẫn được xây dựng đan xen => Vi hành:

  Hàng loạt những mâu thuẫn được dựng nên => Tinh thần thể dục:

  Đặt nhân vật vào hoàn cảnh éo le => Chữ người tử tù:  

  Đặt nhân vật liên tục vào những bi kịch,  mâu thuẫn về thân phận => Chí phèo:

Câu 4: Đặc sắc về nghệ thuật của các truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), Chí Phèo (Nam Cao)

1. Hai đứa trẻ: văn học lãng mạn, không có cốt truyện

=> Xây dựng thành công sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, ngôn ngữ nhẹ nhàng, giàu chất thơ

2. Chữ người tử tù: tình huống truyện độc đáo, xây dựng cảnh tượng hiếm thấy

=> Ngôn ngữ truyện giàu sức tạo hình, vừa cổ kính, vừa hiện đại

3. Chí Phèo: Cốt truyện hấp dẫn, độc đáo, xây dựng thành công nhân vật Chí Phèo

=> Nghệ thuật miêu tả tâm lí, giọng điệu trần thuật biến đổi đa dạng

Câu 5: Nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng => sự đồi bại, thối nát, lố lăng của xã hội "thượng lưu" thành thị

1. Nhan đề => "Hạnh phúc của một tang gia"

2. Tình huống => Cái chết của cụ tổ cố Hồng

3. Nhân vật trào phúng => hệ thống các nhân vật bên trong tang quyến lẫn bên ngoài tang quyến

4. Cảnh tượng trào phúng => Cảnh hạ huyệt ở cuối tác phẩm

Câu 6: Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng triển khai qua 2 mâu thuẫn (giữa Vũ Như Tô với cường quyền; giữa người nghệ sĩ và nhân dân). Cái kết người nghệ sĩ sẽ chết thảm và những công trình nghệ thuật cũng sẽ bị thiêu rụi nếu như nghệ thuật không gắn với lợi ích của nhân dân, phục vụ nhân dân.

=> Cuối cùng cường quyền cũng bị đánh bại.

Câu 7: "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay….sáng tạo những cái gì chưa có". 

Bài viết tham khảo

Trong văn học Việt Nam ít có ngòi bút nào lách sâu đến chỗ tận cùng của xung đột âm thầm mà dữ dội ấy như ngòi bút của Nam Cao. Cái độc đáo của Nam Cao bộc lộ chủ yếu ở cách thức nhà văn đi sâu, tìm tòi, khám phá và diễn tả cái bề sâu của đời sống hiện thực. Nam Cao là một nhà văn hiện thực lớn, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn, có đóng  góp quan trọng đối với quá trình hiện đại hóa truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam.Ông có quan điểm nghệ thuật sâu sắc, tiến bộ đạt được thành tựu xuất sắc, ông cũng là nhà văn có phong cách độc đáo. Trong truyện ngắn đời  thừa  Nam Cao viết: " Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có". 

Mỗi sáng tạo của một nhà văn tài năng phải là một tìm tòi mới, một khám phá mới. Đúng vậy. Mọi nghệ sĩ chân chính, có tài năng đều khao khát sáng tạo ra được những tác phẩm chân chính, sâu sắc. Nhưng không bao giờ họ bằng lòng với lối sao chép, rập khuôn hay phản ánh hiện thực cuộc sống trên bề mặt của nó. Nhà văn phải là người có cái nhìn nhạy bén và sâu xa hơn người để phát hiện những vấn đề sâu kín ở bề sâu của đời sống để đem đến cho người đọc những khía cạnh mới, những vấn đề mới đầy bất ngờ, sâu sắc, thú vị, có khả năng đánh thức vào trí tuệ trái tim, làm phong phú tâm hồn, thậm chí có thể làm thay đổi những thói quen, những nếp nghĩ thông thường.

Câu nói ngắn gọn nhưng đã thâu tóm những yêu cầu thật là gắt gao, nghiêm túc đối với người sáng tác văn chương. Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một kiều mẫu đưa cho là cách diễn tả hình ảnh, ám chỉ thứ văn chương đẽo gọt, khuôn sáo, hời hợt, một thứ văn chụp ảnh hoặc minh họa giản đơn. Người thợ dù là người thợ khéo tay thì cùng chỉ sản xuất ra những thành phẩm hàng loạt theo mẫu mã có sẵn, dù có khéo léo cùng chỉ là một hình thức bắt chước, theo khuôn mẫu. Lao động của nhà văn thì khác hẳn. Đó là quá trình nghiền ngẫm, khám phá, tìm tòi những nội dung mới và hình thức diễn tả mới để tạo ra những sản phẩm độc nhất vô nhị của riêng mình, mang bản sắc độc đáo của từng nghệ sĩ.

Google tìm kiếm:
soan van 11 cuc ngan, soạn văn 11 siêu ngắn, soạn văn 11 bài Ôn tập phần văn học

Soạn văn 11 tập 1 ngắn nhất

@2018 ban quyền thuộc về baivan.net