Soạn văn 10 ngắn nhất bài: Chí khí anh hùng

Soạn bài: “Chí khí anh hùng” - ngữ văn 10 tập 2 ngắn gọn nhất. Nhằm giúp học sinh giảm bớt thời gian soạn bài nhưng vẫn đảm bảo nắm đủ ý, baivan giới thiệu các em tổ hợp bài soạn cực ngắn, siêu ngắn và ngắn nhất. Từ đó, học sinh có thêm lựa chọn bài soạn phù hợp với của mình. Soạn “Chí khí anh hùng” cực ngắn – baivan.

[toc:ul]

I. Câu hỏi trong bài học: 

Bài tập 1: trang 114 sgk Ngữ văn 10 tập 2

Anh (chị) hãy cho biết hàm nghĩa các cụm từ “lòng bốn phương” và “mặt phi thường”. Tìm những từ ngữ thể hiện sự trân trọng, kính phục của Nguyễn Du với Từ Hải.

Bài tập 2: trang 114 sgk Ngữ văn 10 tập 2

Từ Hải bộc lộ lí tưởng anh hùng của mình qua lòi nói với Thúy Kiều như thế nào?

Bài tập 3: trang 114 sgk Ngữ văn 10 tập 2

Nêu nhận xét về đặc điểm của cách miêu tả (hiện thực hay lí tưởng hoá) người anh hùng Từ Hải trong đoạn trích. Đây có phải là cách tả phổ biến của ván học trung đại không?

Giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều) của Nguyễn Du

Đề bài: Cảm nhận của anh (chị) về đoạn trích Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều) của Nguyễn Du

II. Soạn bài siêu ngắn: Chí khí anh hùng

Bài tập 1: Từ ngữ thể hiện sự trân trọng, kính phục của Nguyễn Du với Từ Hải.

  • “Lòng bốn phương” nghĩa chỉ chí nguyện lập nên công danh sự nghiệp.
  • Mặt phi thường: chỉ tính chất khác người, xuất chúng.
  • Từ ngữ thể hiện sự trân trọng và kính phục của Nguyễn Du: trượng phu, lòng bốn phương, mặt phi thường, thoắt, ...

Bài tập 2: Trong lời nói với Kiều, Từ Hải đã bộc lộ lí tưởng:

  • Là một người hiểu biết, một lòng một dạ mình dành cho Kiều tình cảm sâu sắc, coi Kiều khác hẳn với những người vợ “nữ nhi thường tình” mà là ‘Tâm phúc tương tri” của mình 
  • Khẩu khí lời nói của Từ Hải rõ là của bậc trượng phu chí lớn, đàng hoàng, đĩnh đạc, có hào khí. Khẩu khí ấy tạo nên bởi các hình ảnh phi thường, hào hùng: “mười vạn tinh binh”, “tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường”, “bốn bể không nhà”.
  • Lời của Từ Hải nói với Kiều không chỉ là lời của người yêu với người yêu, của người chồng với người vợ mà hơn hết đó là lời của một trang anh hùng với người “tóm phúc tương tri”. Hiện lên tính cách, phẩm chất, chí khí và khát vọng của một tranh anh hùng hảo hán. 

Bài tập 3: Để miêu tả nhân vật Từ Hải tác giả sử dụng  bút pháp ước lệ, lí tưởng hoá:

  • Đây là cách tả phổ biến của ván học trung đại. Nguyễn Du đã khéo léo lồng những phẩm chất rất anh hùng ở Từ Hải vào trong những phẩm chất rất nhiều khiến cho nhân vật anh hùng nhưng không cách biệt với đời thường.

Giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Chí khí anh hùng

 Giá trị nội dung

  • Ca ngợi chí làm trai,trong xã hội xưa, đã là người con trai thì phải có chí lớn, lập được công danh, sự nghiệp để lưu danh trong sử sách.
  • Lí tưởng hóa người anh hùng mang tầm vóc vũ trụ cứu giúp đời. Người anh hùng Từ Hải chính là kẻ phi thường. Chỉ khi thành nghiệp lớn, Từ Hải mới là người anh hùng xứng đáng với Kiều.
  • Tấm chân tình của Từ Hải và Thúy Kiều dành trọn cho nhau bằng niềm tin tưởng vào tương lai. Từ Hải và Thúy Kiều không chỉ là tình yêu đôi lứa, mà nó đã trở thành “tâm phúc tương tri”, hiểu nhau sâu sắc, nàng hiểu ta cũng như ta hiểu nàng.

Giá trị nghệ thuật

  • Bút pháp ước lệ tượng trưng - bút pháp đặc trưng của văn học trung đại, với hình ảnh “bốn bể”, chim bằng...lấy cái bao la, rộng lớn của vũ trụ để hình dung về khao khát làm nên sự nghiệp lớn của Từ Hải
  • Cách đối thoại trực tiếp bộc lộ tính cách tự tin, đầy bản lĩnh, ý chí của một trang nam tử, một đại hảo hản xưa nay hiếm gặp của Từ Hải

Đề bài: Cảm nhận của anh (chị) về đoạn trích Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều) của Nguyễn Du

Bài tham khảo

Trong nền văn học Việt Nam, “Truyện Kiều” được đánh giá là một trong những tác phẩm kiệt xuất nhất. Câu chuyện về cuộc đời người con gái tài hoa nhưng bạc mệnh: Vương Thúy Kiều đã thu hút và làm thổn thức trái tim của biết bao thế hệ độc giả. Đặc biệt, những mối tình lãng mạn nhưng đầy trắc trở của nàng cũng góp phần làm nên sự lôi cuốn cho tác phẩm. Trong đó, phải kể đến cuộc tình đẹp đẽ với người anh hùng đội trời đạp đất Từ Hải. Khác với vẻ thư sinh, “phong lưu tài mạo tót vời” của Kim Trọng, Từ Hải được khắc họa như một vị anh hùng đầy lí tưởng với chí hướng lớn lao. Đoạn trích “Chí khi anh hùng” đã lột tả được nét tính cách đặc biệt ấy.

Kiều trốn khỏi nhà Hoạn Thư và lại rơi vào tay của Bạc Bà, Bạc Hạnh. Cuộc đời của nàng thật sự đã ứng nghiệm với lời tiên đoán của Nguyễn Du “chữ tài liền với chữ tai một vần”. Nhưng may mắn trong bước đường lưu lạc đó nàng đã gặp được người trượng phu cứu vớt cuộc đời mình trong lần bị bắt vào lầu xanh thứ hai: Từ Hải. Tuy nhiên, sau thời gian ân ái mặn nồng, Từ Hải lại quyết định ra đi gây dựng sự nghiệp.

Mở đầu đoạn trích, tác giả đã vẽ nên hoàn cảnh chia tay và tư thế ra đi dứt khoát của người anh hùng Từ Hải:

“Nửa năm hương lửa đương nồng

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương

Trong vời trời bể mênh mang

Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”

Từ xưa đến nay bao giờ mĩ nhân lại chẳng phải là cửa ải khó vượt qua nhất đối với những kẻ nam nhi, những người anh hùng? Nhưng trong đoạn trích này Nguyễn Du đã đưa nhân vật anh hùng Từ Hải lên một tầm cao mới khi dụng tâm miêu tả sâu cách ứng xử của Từ với mĩ nhân, với hạnh phúc lứa đôi qua đó làm nổi bật cốt cách hơn đời của chàng. Đáng ra khi đang vui hưởng cuộc sống “phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng” thì bất cứ ai cũng sẽ chìm đắm trong đó, ấy vậy mà mới có “nửa năm” Từ Hải lại không quên nghiệp lớn quyết lòng ra đi giữa lúc khó ra đi nhất, giữa lúc ái tình đang nồng thắm nhất. Cho nên nếu Kim Trọng được xem là người tình lí tưởng, Thúc Sinh là mối tình hiện thực của Thúy Kiều thì Từ Hải là bật anh hùng đội trời đạp đất cho cuộc đời nàng.

Từ Hải nào phải kẻ tầm thường “giá áo túi cơm” chỉ biết vui vầy bên người đẹp, nếu Từ không có chí hướng cao rộng ắt hẳn đã không xứng với từ “trượng phu” duy nhất mà Nguyễn Du ưu ái dành riêng cho mình. Việc chàng quyết chí ra đi là hoàn toàn phù hợp với tính cách của mình, từ “thoắt” với chi tiết “lên đường thẳng rong” đã vẽ nên rất linh hoạt của một con người ôm mộng cơ đồ như chàng. Chính vì thế mà dù ai cũng biết Từ rất yêu, rất trọng Kiều nhưng cái chí tung hoành bốn phương đã lớn hơn tình cảm đó, giúp chàng vượt qua trạng thái bịn rịn, lưu luyến một cách nhẹ nhàng. Cụm từ “lòng bốn phương” cũng được hiểu là “chí tang bồng” cho nên lúc Từ ra đi vì “động lòng bốn phương” hoàn toàn không phải là đi thăm thú đó đây mà là đi chinh phục cương thổ, sơn hà, chí hướng này cũng là nguồn cảm hứng của rất nhiều tác giả. Trong ca dao xưa có câu: “Làm trai cho đáng thân trai/ Xuống Đông Đông tĩnh, lên Đoài Đoài yên”; Phan Bội Châu cũng quan niệm rằng: “Làm trai phải lạ ở trên đời/ Há để càn khôn tự chuyển dời”; hay Nguyễn Công Trứ cũng cho rằng: “Chí làm trai Nam Bắc Đông Tây, cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể” từ đó ta có thể thấy việc Từ Hải ra đi không phải đơn giản vì “động lòng” mà còn là để trả món nợ làm trai, hơn hết chàng ra đi để gây dựng một cuộc sống mới cho Thúy Kiều và cũng là để cho chính bản thân chàng. Từ Hải không khoanh tay đợi chờ sự ưu ái của số phận hay ngồi phấp phỏng âu lo về những điều bất hạnh khó dự liệu sẽ ập tới, chàng là mẫu người hành động nên biết chủ động giành lấy cái mà mình và người mình yêu đáng được hưởng. Từ Hải dùng hành động “trông vời” đối với không gian bao la rộng lớn “trời bể mênh mang” thể hiện tư thế hiên ngang, sánh ngang tầm vũ trụ. Chàng đã lên đường với một tư thế dứt khoát chỉ cùng “thanh gươm yên ngựa” để mà “lên đường thẳng rong”, không dây dưa bịn rịn như thói thường. Tuy nhiên ta có thể thấy hình ảnh Từ Hải ra đi gây dựng sự nghiệp chỉ với “thanh gươm yên ngựa” vừa tràn ngập hoài bão, vừa mang sức đẹp lớn lao như thế nhưng sâu trong đó ta cũng cảm thấy một chút cô đơn của người anh hùng khi đối diện với bao khó khăn thử thách một cách đơn độc. Bốn câu thơ đầu đã khắc họa nên tư thế ung dung và tầm vóc hiên ngang, vĩ đại ngang tầm vũ trụ của một người anh hùng. Ngay cả trong giờ phút chia li, Từ Hải cũng không hề bịn rịn, ủy mị mà “lên đường thẳng rong”.

Hai câu tiếp theo là tâm trạng và lời giãi bày của Kiều dành cho Từ Hải trong phút chia ly:

“Nàng rằng: Phận gái chữ tòng

Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi”

Trong quan niệm Nho gia người phụ nữ phải chịu sự ràng buộc của các lễ giáo phong kiến với “tam tòng tứ đức”, tam tòng trước hết là tại gia phụ thuộc vào cha, sau khi gả đi thì phụ thuộc vào người chồng, chồng chết thì phải dựa vào con. Tuy nhiên ở đây ta có thể thấy sâu thẳm trong ý nguyện muốn được ra đi cùng chồng của Kiều còn rất nhiều nguyên do chứ không hẳn do lễ giáo. Sau những năm tháng khổ nhục, phiêu bạt đoạn trường, Từ Hải là người cứu vớt, là chỗ dựa vững chắc nhất của nàng nên khi Từ muốn ra đi Kiều đã lập tức xin theo, cho dù chưa biết đi đâu. Lời nói của Kiều thể hiện tình yêu tha thiết, sự thấu hiểu và khâm phục mà nàng dành cho Từ Hải, nàng tự nguyện gắng bó cuộc đời mình với chàng.

“Từ rằng: Tâm phúc tương tri,

Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?

Bao giờ mười vạn tinh binh,

Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường

Làm cho rõ mặt phi thường,

Bấy giờ ta sẽ đón nàng nghi gia,

Bằng nay bốn bể không nhà,

Theo càng thêm bận, biết là đi đâu?

Đành lòng chờ đó ít lâu,

Chầy chăng là một năm sau vội gì?" 

Lời từ chối của Từ Hải cho thấy lý tưởng lớn lao của chàng cùng với tình yêu sâu sắc của chàng đối với Thúy Kiều. Thoạt tiên, chàng trách nàng “Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?”, tuy trách nhưng thực chất là để đề cao. Chính vì coi Kiều là người “tâm phúc”  nên Từ yêu cầu và động viên nàng xây dựng phẩm chất để trở thành nàng Ngu Cơ của mình với những phẩm chất cao cả hơn chứ không phải những thói thường tình. Ai bảo khí phách anh hùng chỉ bộc lộ trong “vòng tên đạn bời bời”? Nguyễn Du đã thành công khi chứng minh chí khí của Từ Hải khi vượt qua được ải mĩ nhân, hay những cám dỗ của tình yêu đôi lứa.

Khi để Từ Hải bộc bạch tâm nguyện “làm cho rõ mặt phi thường” với Kiều Nguyễn Du đã sử dụng một loạt các từ ngữ, hình ảnh thuộc phạm trù không gian gợi nên khát vọng lớn lao, tầm vóc vũ trụ của người anh hùng chí lớn. Chàng tự thấy, hiện tại chưa phải là lúc có thể tiến hành nghi thức thành hôn cho thật xứng đáng với những gì mà chàng cho rằng Kiều đáng được nhận. Chính vì vậy nên chàng quyết lòng ra đi để đi tìm hạnh phúc cho cả hai. Lời hứa trước giờ lên đường có ý nghĩa rất quan trọng đối với cả hai. Đó vừa là động lực cho Từ xông pha chiến đấu khi biết nơi quê nhà còn có người đang đợi mình trở về vừa có ý nghĩa tiếp thêm niềm tin cho Thúy Kiều trong khi đợi chờ chồng quay lại.

Chừng như sự nghiệp lớn lao vĩ đại ấy chàng có thể dễ dàng đạt đến không tốn lấy một giọt mồ hôi. Tuy nhiên, Từ Hải đã nói những lời ấy trong hoàn cảnh “bốn bể không nhà” chỉ với “thanh gươm yên ngựa” mà còn chẳng “biết là đi đâu” với một ước hẹn cụ thể “chầy chăng là một năm sau”. Điều đó càng cho thấy ở chàng có một sự tự tin mạnh mẽ cũng như chí hướng rõ ràng cho con đường lập nghiệp của bản thân. Việc làm của Từ có khác nào hành động “Nước lã mà vã nên hồ” từ hai bàn tay không mà lập nên cơ đồ, nhưng chàng đã dám hứa chắc để động viên Kiều trong những ngày tháng sắp tới. Từ đó cho thấy Từ đâu chỉ là người anh hùng có chí khí mà còn là một người đàn ông với tình yêu thương, lo lắng vô bờ đáng để Kiều trao thân gởi phận.

Hai câu thơ cuối thể hiện sự dứt khoát của Từ trong phút chia tay:

“Quyết lời dứt áo ra đi

Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi”

Không có gì nghi ngờ khi Từ Hải được cho là nhân vật tự do nhất trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, nếu sự ra đi của các nhân vật khác đều do số phận đưa đẩy thì Từ Hải lại ra đi với một tâm thế chủ động, hiên ngang với các động từ mạnh “quyết”, “dứt” của một người anh hùng lí tưởng biết làm chủ số phận. Bóng dáng Từ Hải trên bước đường lập nghiệp được ẩn dụ thông qua hình ảnh “cánh chim bằng” đặt trong hoàn cảnh“gió mây”, “dặm khơi” bao la rộng lớn. Đối với Nguyễn Du tầm vóc của Từ phải là cái tầm vóc của vũ trụ mới thật xứng đáng. Chàng là cánh chim tự do với sức mạnh và ý chí phi thường chuyên chở giấc mơ “tháo củi sổ lồng” của Nguyễn Du cũng như tất cả những người có hùng tâm tráng chí trong thời đại mình để bay vượt lên tất thảy những “sóng gió bất kì” mà cuộc đời đưa đến.

Qua đoạn trích “Chí khí anh hùng”, Nguyễn Du đã khắc họa nên hình ảnh một bậc đại trượng phu vừa có chí khí phi thường, vừa có lí tưởng cao đẹp. Hình tượng Từ Hải với tầm vóc, lý tưởng lớn lao trở thành một trong những hình tượng nhân vật đẹp nhất trong “Truyện Kiều” nói riêng và trong văn thơ trung đại nói chung.

 

 => Trên đây là bài viết tham khảo. Tuy nhiên, nếu bạn học sinh nào muốn viết theo ý mình thì tech12h có dàn ý để các bạn dễ viết bài.

Mở bài:

Giới thiệu “Truyện Kiều” và đoạn trích “Chí khí anh hùng”

Thân bài:

- Vị trí đoạn trích “Chí khí anh hùng”

- Phân tích 4 câu đầu: hoàn cảnh chia tay và tư thế ra đi dứt khoát của người anh hùng Từ Hải.

  • Tư thế ung dung và tầm vóc hiên ngang, vĩ đại ngang tầm vũ trụ của một người anh hùng. Ngay cả trong giờ phút chia li, Từ Hải cũng không hề bịn rịn, ủy mị mà “lên đường thẳng rong”.

- 2 câu tiếp theo: Lời đáp của Thúy Kiều đối với Từ Hải

  • “Phận gái chữ tòng”: Phận sự của người phụ nữ đối với chồng, theo quan niệm đạo đức truyền thống.
  • “Một lòng xin đi”: Kiều muốn theo Từ Hải để làm tròn phận sự của người vợ.
  • Lời nói của Kiều thể hiện tình yêu tha thiết, sự thấu hiểu và khâm phục mà nàng dành cho Từ Hải, nàng tự nguyện gắng bó cuộc đời mình với chàng.

- 10 câu tiếp theo: Câu trả lời của Từ Hải

  • Lời trách móc: trách Kiều vẫn còn giữ cách suy nghĩ và hành động của một người phụ nữ bình thường, đồng thời cũng khuyên nàng vượt lên tình cảm thông thường để xứng làm “người tri kỉ” của một anh hùng thực thụ. -> chàng là một người có suy nghĩ lí trí khác thường và cũng hết sức tôn trọng người vợ của mình.
  • Hứa hẹn: đón Kiều “nghi gia” khi chàng công thành danh toại -> người anh hùng có chí khí phi thường đồng thời cũng là người đàn ông có trách nhiệm với người mình yêu.
  • Động viên:  “Một năm sau”: Mốc thời gian cụ thể khẳng định bản lĩnh, sự tự tin sẽ làm nên sự nghiệp trong thời gian ngắn.

- 2 câu cuối:

  • Hành động: “Quyết lời”, “Dứt áo ra đi”: Dứt khoát, không hề do dự.
  • Hình ảnh “chim bằng” -> Ẩn dụ tượng trưng về người anh hùng có lí tưởng cao đẹp, hùng tráng, phi thường, mang tầm vóc vũ trụ. Tác giả muốn ví Từ Hải như chim bằng cưỡi gió bay cao, bay xa ngoài biển lớn.

Kết bài:

Giá trị, đóng góp của đoạn trích nói riêng và “Truyện Kiều” nói chung.

III. Soạn bài ngắn nhất: Chí khí anh hùng

Bài tập 1: 

- “Lòng bốn phương” =>chí nguyện lập nên công danh sự nghiệp.

- Mặt phi thường => tính chất khác người, xuất chúng.

- Từ ngữ: trượng phu, lòng bốn phương, mặt phi thường, thoắt, ...

Bài tập 2: Từ Hải đã bộc lộ lí tưởng:

- Hiểu biết, một lòng một dạ mình dành cho Kiều tình cảm sâu sắc, coi Kiều khác hẳn với những người vợ.

- Khẩu khí của bậc trượng phu chí lớn,tạo nên bởi các hình ảnh phi thường, hào hùng.

=>Lời của Từ Hải nói với Kiều không chỉ là lời của người yêu với người yêu, của người chồng với người vợ mà hơn hết đó là lời của một trang anh hùng với người “tóm phúc tương tri”. 

Bài tập 3: Tác giả sử dụng: bút pháp ước lệ, lí tưởng hoá => cách tả phổ biến của ván học trung đại, Nguyễn Du đã khéo léo lồng những phẩm chất rất anh hùng ở Từ Hải vào trong những phẩm chất rất nhiều khiến cho nhân vật anh hùng nhưng không cách biệt với đời thường.

Giá trị đoạn trích Chí khí anh hùng

1. Nội dung

- Ca ngợi chí làm trai, đã là người con trai thì phải có chí lớn, lập được công danh, sự nghiệp.

- Lí tưởng hóa người anh hùng mang tầm vóc vũ trụ cứu giúp đời,Từ Hải mới là người anh hùng xứng đáng với Kiều.

- Từ Hải và Thúy Kiều không chỉ là tình yêu đôi lứa, mà nó đã trở thành “tâm phúc tương tri”, hiểu nhau sâu sắc, nàng hiểu ta cũng như ta hiểu nàng.

2. Nghệ thuật

- Ước lệ tượng trưng - bút pháp đặc trưng của văn học trung đại, với hình ảnh “bốn bể”, chim bằng...lấy cái bao la, rộng lớn của vũ trụ để hình dung về khao khát làm nên sự nghiệp lớn của Từ Hải

- Đối thoại trực tiếp bộc lộ tính cách tự tin, đầy bản lĩnh, ý chí của một trang nam tử, một đại hảo hản xưa nay hiếm gặp của Từ Hải

Đề bài: Cảm nhận của anh (chị) về đoạn trích Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều) của Nguyễn Du

Bài tham khảo

Trong nền văn học Việt Nam, “Truyện Kiều” được đánh giá là một trong những tác phẩm kiệt xuất nhất. Câu chuyện về cuộc đời người con gái tài hoa nhưng bạc mệnh: Vương Thúy Kiều đã thu hút và làm thổn thức trái tim của biết bao thế hệ độc giả. Đặc biệt, những mối tình lãng mạn nhưng đầy trắc trở của nàng cũng góp phần làm nên sự lôi cuốn cho tác phẩm. Trong đó, phải kể đến cuộc tình đẹp đẽ với người anh hùng đội trời đạp đất Từ Hải. Khác với vẻ thư sinh, “phong lưu tài mạo tót vời” của Kim Trọng, Từ Hải được khắc họa như một vị anh hùng đầy lí tưởng với chí hướng lớn lao. Đoạn trích “Chí khi anh hùng” đã lột tả được nét tính cách đặc biệt ấy.

Kiều trốn khỏi nhà Hoạn Thư và lại rơi vào tay của Bạc Bà, Bạc Hạnh. Cuộc đời của nàng thật sự đã ứng nghiệm với lời tiên đoán của Nguyễn Du “chữ tài liền với chữ tai một vần”. Nhưng may mắn trong bước đường lưu lạc đó nàng đã gặp được người trượng phu cứu vớt cuộc đời mình trong lần bị bắt vào lầu xanh thứ hai: Từ Hải. Tuy nhiên, sau thời gian ân ái mặn nồng, Từ Hải lại quyết định ra đi gây dựng sự nghiệp.

Mở đầu đoạn trích, tác giả đã vẽ nên hoàn cảnh chia tay và tư thế ra đi dứt khoát của người anh hùng Từ Hải:

“Nửa năm hương lửa đương nồng

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương

Trong vời trời bể mênh mang

Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”

Từ xưa đến nay bao giờ mĩ nhân lại chẳng phải là cửa ải khó vượt qua nhất đối với những kẻ nam nhi, những người anh hùng? Nhưng trong đoạn trích này Nguyễn Du đã đưa nhân vật anh hùng Từ Hải lên một tầm cao mới khi dụng tâm miêu tả sâu cách ứng xử của Từ với mĩ nhân, với hạnh phúc lứa đôi qua đó làm nổi bật cốt cách hơn đời của chàng. Đáng ra khi đang vui hưởng cuộc sống “phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng” thì bất cứ ai cũng sẽ chìm đắm trong đó, ấy vậy mà mới có “nửa năm” Từ Hải lại không quên nghiệp lớn quyết lòng ra đi giữa lúc khó ra đi nhất, giữa lúc ái tình đang nồng thắm nhất. Cho nên nếu Kim Trọng được xem là người tình lí tưởng, Thúc Sinh là mối tình hiện thực của Thúy Kiều thì Từ Hải là bật anh hùng đội trời đạp đất cho cuộc đời nàng.

Từ Hải nào phải kẻ tầm thường “giá áo túi cơm” chỉ biết vui vầy bên người đẹp, nếu Từ không có chí hướng cao rộng ắt hẳn đã không xứng với từ “trượng phu” duy nhất mà Nguyễn Du ưu ái dành riêng cho mình. Việc chàng quyết chí ra đi là hoàn toàn phù hợp với tính cách của mình, từ “thoắt” với chi tiết “lên đường thẳng rong” đã vẽ nên rất linh hoạt của một con người ôm mộng cơ đồ như chàng. Chính vì thế mà dù ai cũng biết Từ rất yêu, rất trọng Kiều nhưng cái chí tung hoành bốn phương đã lớn hơn tình cảm đó, giúp chàng vượt qua trạng thái bịn rịn, lưu luyến một cách nhẹ nhàng. Cụm từ “lòng bốn phương” cũng được hiểu là “chí tang bồng” cho nên lúc Từ ra đi vì “động lòng bốn phương” hoàn toàn không phải là đi thăm thú đó đây mà là đi chinh phục cương thổ, sơn hà, chí hướng này cũng là nguồn cảm hứng của rất nhiều tác giả. Trong ca dao xưa có câu: “Làm trai cho đáng thân trai/ Xuống Đông Đông tĩnh, lên Đoài Đoài yên”; Phan Bội Châu cũng quan niệm rằng: “Làm trai phải lạ ở trên đời/ Há để càn khôn tự chuyển dời”; hay Nguyễn Công Trứ cũng cho rằng: “Chí làm trai Nam Bắc Đông Tây, cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể” từ đó ta có thể thấy việc Từ Hải ra đi không phải đơn giản vì “động lòng” mà còn là để trả món nợ làm trai, hơn hết chàng ra đi để gây dựng một cuộc sống mới cho Thúy Kiều và cũng là để cho chính bản thân chàng. Từ Hải không khoanh tay đợi chờ sự ưu ái của số phận hay ngồi phấp phỏng âu lo về những điều bất hạnh khó dự liệu sẽ ập tới, chàng là mẫu người hành động nên biết chủ động giành lấy cái mà mình và người mình yêu đáng được hưởng. Từ Hải dùng hành động “trông vời” đối với không gian bao la rộng lớn “trời bể mênh mang” thể hiện tư thế hiên ngang, sánh ngang tầm vũ trụ. Chàng đã lên đường với một tư thế dứt khoát chỉ cùng “thanh gươm yên ngựa” để mà “lên đường thẳng rong”, không dây dưa bịn rịn như thói thường. Tuy nhiên ta có thể thấy hình ảnh Từ Hải ra đi gây dựng sự nghiệp chỉ với “thanh gươm yên ngựa” vừa tràn ngập hoài bão, vừa mang sức đẹp lớn lao như thế nhưng sâu trong đó ta cũng cảm thấy một chút cô đơn của người anh hùng khi đối diện với bao khó khăn thử thách một cách đơn độc. Bốn câu thơ đầu đã khắc họa nên tư thế ung dung và tầm vóc hiên ngang, vĩ đại ngang tầm vũ trụ của một người anh hùng. Ngay cả trong giờ phút chia li, Từ Hải cũng không hề bịn rịn, ủy mị mà “lên đường thẳng rong”.

Hai câu tiếp theo là tâm trạng và lời giãi bày của Kiều dành cho Từ Hải trong phút chia ly:

“Nàng rằng: Phận gái chữ tòng

Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi”

Trong quan niệm Nho gia người phụ nữ phải chịu sự ràng buộc của các lễ giáo phong kiến với “tam tòng tứ đức”, tam tòng trước hết là tại gia phụ thuộc vào cha, sau khi gả đi thì phụ thuộc vào người chồng, chồng chết thì phải dựa vào con. Tuy nhiên ở đây ta có thể thấy sâu thẳm trong ý nguyện muốn được ra đi cùng chồng của Kiều còn rất nhiều nguyên do chứ không hẳn do lễ giáo. Sau những năm tháng khổ nhục, phiêu bạt đoạn trường, Từ Hải là người cứu vớt, là chỗ dựa vững chắc nhất của nàng nên khi Từ muốn ra đi Kiều đã lập tức xin theo, cho dù chưa biết đi đâu. Lời nói của Kiều thể hiện tình yêu tha thiết, sự thấu hiểu và khâm phục mà nàng dành cho Từ Hải, nàng tự nguyện gắng bó cuộc đời mình với chàng.

“Từ rằng: Tâm phúc tương tri,

Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?

Bao giờ mười vạn tinh binh,

Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường

Làm cho rõ mặt phi thường,

Bấy giờ ta sẽ đón nàng nghi gia,

Bằng nay bốn bể không nhà,

Theo càng thêm bận, biết là đi đâu?

Đành lòng chờ đó ít lâu,

Chầy chăng là một năm sau vội gì?" 

Lời từ chối của Từ Hải cho thấy lý tưởng lớn lao của chàng cùng với tình yêu sâu sắc của chàng đối với Thúy Kiều. Thoạt tiên, chàng trách nàng “Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?”, tuy trách nhưng thực chất là để đề cao. Chính vì coi Kiều là người “tâm phúc”  nên Từ yêu cầu và động viên nàng xây dựng phẩm chất để trở thành nàng Ngu Cơ của mình với những phẩm chất cao cả hơn chứ không phải những thói thường tình. Ai bảo khí phách anh hùng chỉ bộc lộ trong “vòng tên đạn bời bời”? Nguyễn Du đã thành công khi chứng minh chí khí của Từ Hải khi vượt qua được ải mĩ nhân, hay những cám dỗ của tình yêu đôi lứa.

Khi để Từ Hải bộc bạch tâm nguyện “làm cho rõ mặt phi thường” với Kiều Nguyễn Du đã sử dụng một loạt các từ ngữ, hình ảnh thuộc phạm trù không gian gợi nên khát vọng lớn lao, tầm vóc vũ trụ của người anh hùng chí lớn. Chàng tự thấy, hiện tại chưa phải là lúc có thể tiến hành nghi thức thành hôn cho thật xứng đáng với những gì mà chàng cho rằng Kiều đáng được nhận. Chính vì vậy nên chàng quyết lòng ra đi để đi tìm hạnh phúc cho cả hai. Lời hứa trước giờ lên đường có ý nghĩa rất quan trọng đối với cả hai. Đó vừa là động lực cho Từ xông pha chiến đấu khi biết nơi quê nhà còn có người đang đợi mình trở về vừa có ý nghĩa tiếp thêm niềm tin cho Thúy Kiều trong khi đợi chờ chồng quay lại.

Chừng như sự nghiệp lớn lao vĩ đại ấy chàng có thể dễ dàng đạt đến không tốn lấy một giọt mồ hôi. Tuy nhiên, Từ Hải đã nói những lời ấy trong hoàn cảnh “bốn bể không nhà” chỉ với “thanh gươm yên ngựa” mà còn chẳng “biết là đi đâu” với một ước hẹn cụ thể “chầy chăng là một năm sau”. Điều đó càng cho thấy ở chàng có một sự tự tin mạnh mẽ cũng như chí hướng rõ ràng cho con đường lập nghiệp của bản thân. Việc làm của Từ có khác nào hành động “Nước lã mà vã nên hồ” từ hai bàn tay không mà lập nên cơ đồ, nhưng chàng đã dám hứa chắc để động viên Kiều trong những ngày tháng sắp tới. Từ đó cho thấy Từ đâu chỉ là người anh hùng có chí khí mà còn là một người đàn ông với tình yêu thương, lo lắng vô bờ đáng để Kiều trao thân gởi phận.

Hai câu thơ cuối thể hiện sự dứt khoát của Từ trong phút chia tay:

“Quyết lời dứt áo ra đi

Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi”

Không có gì nghi ngờ khi Từ Hải được cho là nhân vật tự do nhất trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, nếu sự ra đi của các nhân vật khác đều do số phận đưa đẩy thì Từ Hải lại ra đi với một tâm thế chủ động, hiên ngang với các động từ mạnh “quyết”, “dứt” của một người anh hùng lí tưởng biết làm chủ số phận. Bóng dáng Từ Hải trên bước đường lập nghiệp được ẩn dụ thông qua hình ảnh “cánh chim bằng” đặt trong hoàn cảnh“gió mây”, “dặm khơi” bao la rộng lớn. Đối với Nguyễn Du tầm vóc của Từ phải là cái tầm vóc của vũ trụ mới thật xứng đáng. Chàng là cánh chim tự do với sức mạnh và ý chí phi thường chuyên chở giấc mơ “tháo củi sổ lồng” của Nguyễn Du cũng như tất cả những người có hùng tâm tráng chí trong thời đại mình để bay vượt lên tất thảy những “sóng gió bất kì” mà cuộc đời đưa đến.

Qua đoạn trích “Chí khí anh hùng”, Nguyễn Du đã khắc họa nên hình ảnh một bậc đại trượng phu vừa có chí khí phi thường, vừa có lí tưởng cao đẹp. Hình tượng Từ Hải với tầm vóc, lý tưởng lớn lao trở thành một trong những hình tượng nhân vật đẹp nhất trong “Truyện Kiều” nói riêng và trong văn thơ trung đại nói chung.

IV. Soạn bài cực ngắn: Chí khí anh hùng

Bài tập 1: 

1. “Lòng bốn phương”

 =>chí nguyện lập nên công danh sự nghiệp.

2. Mặt phi thường

 => tính chất khác người, xuất chúng.

3. Từ ngữ: trượng phu, lòng bốn phương, mặt phi thường, thoắt, ...

Bài tập 2: Từ Hải đã bộc lộ lí tưởng: Hiểu biết, một lòng một dạ mình dành cho Kiều tình cảm sâu sắc, Khẩu khí của bậc trượng phu chí lớn =>Lời của Từ Hải nói với Kiều không chỉ là lời của người yêu với người yêu, của người chồng với người vợ mà hơn hết đó là lời của một trang anh hùng với người “tóm phúc tương tri”. 

Bài tập 3: Sử dụng: bút pháp ước lệ, lí tưởng hoá. 

Giá trị đoạn trích Chí khí anh hùng

1.Nội dung: Ca ngợi chí làm trai, phải có chí lớn, lập được công danh, sự nghiệp. Lí tưởng hóa người anh hùng mang tầm vóc vũ trụ cứu giúp đời,Từ Hải mới là người anh hùng xứng đáng với Kiều. Từ Hải và Thúy Kiều không chỉ là tình yêu đôi lứa, mà nó đã trở thành “tâm phúc tương tri”, hiểu nhau sâu sắc, nàng hiểu ta cũng như ta hiểu nàng.

2.Nghệ thuật: Ước lệ tượng trưng - bút pháp đặc trưng của văn học trung đại, với hình ảnh “bốn bể”, chim bằng...lấy cái bao la, rộng lớn của vũ trụ để hình dung về khao khát làm nên sự nghiệp lớn của Từ Hải, đối thoại trực tiếp.

Đề bài: Cảm nhận của anh (chị) về đoạn trích Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều) của Nguyễn Du

Dàn bài tham khảo

1. Mở bài: Giới thiệu “Truyện Kiều” và đoạn trích “Chí khí anh hùng”

2. Thân bài:

- Vị trí đoạn trích “Chí khí anh hùng”

- 4 câu đầu: hoàn cảnh chia tay và tư thế ra đi dứt khoát của người anh hùng Từ Hải.

- 2 câu tiếp theo: Lời đáp của Thúy Kiều đối với Từ Hải

  • “Phận gái chữ tòng”: Phận sự của người phụ nữ đối với chồng, theo quan niệm đạo đức truyền thống.
  • “Một lòng xin đi”: Kiều muốn theo Từ Hải để làm tròn phận sự của người vợ.
  • Lời nói của Kiều thể hiện tình yêu tha thiết, sự thấu hiểu và khâm phục mà nàng dành cho Từ Hải, nàng tự nguyện gắng bó cuộc đời mình với chàng.

- 10 câu tiếp theo: Câu trả lời của Từ Hải

  • Lời trách móc: trách Kiều vẫn còn giữ cách suy nghĩ và hành động của một người phụ nữ bình thường, đồng thời cũng khuyên nàng vượt lên tình cảm thông thường để xứng làm “người tri kỉ” của một anh hùng thực thụ. -> chàng là một người có suy nghĩ lí trí khác thường và cũng hết sức tôn trọng người vợ của mình.
  • Hứa hẹn: đón Kiều “nghi gia” khi chàng công thành danh toại -> người anh hùng có chí khí phi thường đồng thời cũng là người đàn ông có trách nhiệm với người mình yêu.
  • Động viên:  “Một năm sau”: Mốc thời gian cụ thể khẳng định bản lĩnh, sự tự tin sẽ làm nên sự nghiệp trong thời gian ngắn.

- 2 câu cuối:

  • Hành động: “Quyết lời”, “Dứt áo ra đi”: Dứt khoát, không hề do dự.
  • Hình ảnh “chim bằng” -> Ẩn dụ tượng trưng về người anh hùng có lí tưởng cao đẹp, hùng tráng, phi thường, mang tầm vóc vũ trụ. Tác giả muốn ví Từ Hải như chim bằng cưỡi gió bay cao, bay xa ngoài biển lớn.

3. Kết bài: Giá trị, đóng góp của đoạn trích nói riêng và “Truyện Kiều” nói chung.

 

Tìm kiếm google: hướng dẫn soạn bài Chí khí anh hùng, Chí khí anh hùng ngữ văn 10 tập 2, soạn bài Chí khí anh hùng ngữ văn 10 tập 2.

Xem thêm các môn học

Soạn văn 10 tập 2 ngắn nhất


Đia chỉ: Tòa nhà TH Office, 90 Khuất Duy Tiến, Thanh Xuân, Hà Nội
Điện thoại hỗ trợ: Fidutech - click vào đây
Chúng tôi trên Yotube
Cùng hệ thống: baivan.net - Kenhgiaovien.com - tech12h.com