Bài soạn lớp 10: Ca dao hài hước

Hướng dẫn soạn bài:Đấu tranh cho một thế giới hòa bình - Mác két - Trang 17 sgk ngữ văn 10 tập 1. Tất cả các câu hỏi trong bài học đều được trả lời rành mạch và dễ hiểu. Với cách soạn sau, các em học sinh sẽ nắm tốt nội dung bài học. Ngoài ra, nếu có câu hỏi nào, các em comment phía dưới để thầy cô giải đáp.


Tìm hiểu tác phẩm

  • Ca dao hài hước bằng nghệ thuật trào lộng, hóm hỉnh thể hiện niềm tin, lạc quan vào cuộc sống của nhân dân lao động
  • Có hai loại ca dao hài hước:
    • Ca dao tự trào (tự cười mình): là những bài ca dao vang lên tiếng cười chính mình, tự cười bản thân, tiếng cười lạc quan vượt lên trên hoàn cảnh sống vui vẻ, làm động lực tinh thần đối mặt với những lo toan vất vả của cuộc sống.
    • Ca dao châm biếm: dùng những lời nói châm biếm mỉa mai phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội, có ý nghĩa điển hình.

Câu 1: Bài 1 đây là lời đối đáp vui đùa của nam nữ thường thấy trong ca dao...

Bài 1 đây là lời đối đáp vui đùa của nam nữ thường thấy trong ca dao. Nó đem đến cho ta một tiếng cười mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Hãy đọc kĩ bài ca dao và cho biết:

  • Việc dẫn cưới và thách cưới ở đây có gì khác thường? Cách nói của chàng trai và cô gái có gì đặc biệt? Từ đó, anh chị hãy nêu cảm nhận của mình về tiếng cười của người lao động trong cảnh nghèo.
  • Bài ca dao có giọng điệu hài hước, dí dỏm, đáng yêu là nhờ yếu tố nghệ thuật nào?

Trả lời:

  • Việc hôn nhân là việc quan trọng của đời người, vì thế thường được chuẩn bị rất chu đáo và cẩn thận. Nhưng ở bài ca dao, việc dẫn cưới lại có nhiều nét khác thường:
    • Lời của chàng trai: Tuy nghèo khó, nhưng vì coi trọng lễ cưới, yêu quý người bạn trăm năm, nên chàng trai đã nói lên những dự định rất sang trọng trong lễ cưới rồi tìm cớ rất hợp lý để gạt bỏ dự định đó. Qua cách nói này, chàng trai thể hiện được nỗi lòng của mình rất coi trọng ngày cưới nhưng cũng vì hoàn cảnh mà không được như ý nguyện, từ đó nhận được sự cảm thông, sẻ chia và tiếng cười đến từ hình thức nói quá đầy ý nhị của chàng:

Muốn dẫn voi ==> sợ quốc cấm
Muốn dẫn trâu==> sợ họ máu hàn
Muốn dẫn bò ==> sợ họ nhà nàng co gân.

  • Lời đối đáp của cô gái: Trước dự định dẫn cưới của chàng trai, cô gái vẫn cảm thấy hài lòng

Chàng dẫn thế, em thấy làm sang
Một con chuột béo đối với cô là đã sang rồi.

Và trong việc thách cưới, cô gái cũng không đòi hỏi gì nhiều:

Người ta thách lợn thách gà
 Nhà em thách cưới một nhà khoai lang

Qua đó, ta thấy được nét đẹp trong tâm hồn cô gái: Không chỉ chấp nhận, cô còn lấy làm sang cho dù vật dẫn cưới chỉ là một con chuột béo! Cùng cảnh nghèo như nhau, cô dễ dàng thông cảm và sẵn sàng chấp nhận. Nhưng còn cao đẹp hơn là lời thách cưới của cô: Nhà em thách cưới một nhà khoai lang. Không chỉ là lời thách cưới vô tư, thanh thản mà còn là một tâm hồn lạc quan yêu đời, một triết lí trong cuộc sống của người lao động - không mặc cảm mà còn tìm thấy niềm vui trong cảnh nghèo và nhất là luôn giữ được cuộc sống thanh cao của mình.
 Lời thách cưới thật đáng yêu, đáng trân trọng, cho dù nó chỉ là lời đùa cợt trong chặng hát cưới của dân ca. Cho thấy cuộc sống của người dân lao động tuy nghèo về vật chất nhưng luôn ấm áp, hạnh phúc về tinh thần.

  • Nghệ thuật bài ca dao:
    • Lối nói khoa trương, phóng đại: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò… (đây là nối nói thường gặp trong ca dao, đặc biệt là trong sự “tưởng tượng” ra các lễ cưới thật sang trọng, linh đình của các chàng trai đang yêu).
    •  Lối nói giảm dần: Voi -  trâu -  bò - chuột (chàng trai)
    • Củ to -  củ nhỏ -  củ mẻ - củ rím, củ hà (cô gái)
    •  Cách nói đối lập. Dẫn voi / sợ quốc cấm Dẫn trâu / sợ họ máu hàn Dẫn bò / sợ họ co gân Lợn gà / khoai lang
    •  Chi tiết hài hước, dí dỏm:  “Miễn là” có thú bốn chân “Dẫn” con chuột béo, / mời dân, mời làng. 

Câu 2: Các bài 2,3,4: Tiếng cười trong ba bài ca dao có gì khác với tiếng cười ở bài 1?...

Các bài 2,3,4: Tiếng cười trong ba bài ca dao có gì khác với tiếng cười ở bài 1? Tác giả dân gian cười những con người nào trong xã hội, nhằm mục đích gì, với thái độ ra sao? Trong cái chung đó, mỗi bài lại có nét riêng thể hiện nghệ thuật trào lộng sắc sảo của người bình dân. Hãy phân tích làm rõ vẻ đẹo riêng của mỗi bài ca dao.

Trả lời:

Các bài 2,3,4: Tiếng cười trong ba bài ca dao khác với tiếng cười ở bài 1, ở mỗi bài là sự chế giễu một loại người trong xã hội:

  • Bài 2. Chế giễu loại đàn ông yếu đuối, không đáng với sức trai khỏe mạnh. Tiếng cười bật ra nhờ nghệ thuật phóng đại kết hợp với thủ pháp đối lập. Có thể có những chàng trai yếu đuối, nhưng không ai lại yếu đuối đến mức chỉ gánh nổi… có hai hạt vừng. Ngoài ra, tính hài hước là ở chỗ phải khom lưng chống gối (có nghĩa là ráng hết sức) chỉ để gánh hai hạt vừng.
  • Bài 3. Chế giễu loại đàn ông lười nhác, không có chí lớn. Bài ca dao sử dụng biện pháp so sánh, nêu lên sự đối lập giữa "chồng người" với "chồng em". Hình ảnh người đàn ông "ngồi bếp sờ đuôi con mèo" là tiêu biểu cho loại đàn ông lười nhác, chỉ biết ngồi ở xó nhà, ăn bám vợ. Bài ca dao vừa mang tính hài hước vừa mang tính phê phán sâu sắc.
  • Bài 4 là bài ca dao chế giễu loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên. Tiếng cười của bài ca dao lại một lần nữa chủ yếu được xây dựng dựa trên nghệ thuật phóng đại và những liên tưởng phong phú của tác giả dân gian. Đằng sau tiếng cười hài hước, giải trí, mua vui, tác giả dân gian vẫn muốn thể hiện một lời châm biếm nhẹ nhàng tới loại phụ nữ vô duyên đỏng đảnh - một loại người không phải không có trong xã hội.  Tác giả dân gian đã nhìn họ bằng con mắt nhân hậu, thông cảm, qua con mắt của người chồng yêu vợ nên tất cả điều xấu của nhân vật đều hóa thành tốt (lông mũi / râu rồng trời cho; ngáy o o/cho vui nhà; ăn quà/đỡ cơm; rác rơm /hoa thơm).

Câu 3: Những biện pháp nghệ thuật nào thường được sử dụng trong ca dao hài hước.

Trả lời:

Qua các bài ca dao trên , có thể thấy ca dao hài hước thường sử dụng những biện pháp nghệ thuật như sau:

  • Lối nói khoa trương, phóng đại, sự tương phản đối lập.
  • Hình ảnh hài hước, chi tiết hàm chứa ý nghĩa.
  • Cách nói hóm hỉnh, ý nhị.
  •  Dùng ngôn ngữ đời thường nhưng thâm thúy và sâu sắc.
  • Có nhiều liên tưởng độc đáo, bất ngờ, lí thú.

[Luyện tập] Câu 1: Nêu cảm nghĩ thật của mình về lời thách cưới của cô gái.

Trả lời:

Qua lời thách cưới của cô gái trong bài ca dao số 1 ta thấy được sự ý nhị, bằng lòng với tình yêu mà mình đã chọn:

Chàng dẫn thế em lấy làm sang

Cách trả lời của cô gái thật khéo léo, thông minh, không làm cho người mình yêu phải mất mặt. Yêu nhau chắc hẳn cô cũng đã rõ gia cảnh nhà chàng. Sự đồng tình ủng hộ với lời đùa vui của chàng trai khiến ta cảm thấy niềm vui ở cô gái. Dù chàng nghèo em vẫn một lòng một dạ yêu thương.
Sau đó cô gái đã đưa ra lời thách cưới:

Người ta thách lợn thách gà
Nhà em thách cưới một nhà khoai lang.

Vật thách cưới ấy thật giản dị và gần gũi với người dân lao động nghèo. Hôn nhân với mỗi người con gái là việc hệ trọng, cô gái có quyền đòi hỏi nhà trai những lễ vật cao sang. Nhưng ở đây, tình yêu thương đã lớn hơn tất cả, họ đến với nhau vì tình cảm chân thành, không coi trọng cuộc sống vật chất. Câu ca dao trên cũng gần với ý thơ trong câu:

Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.

Qua lời khách cưới của cô gái, ta càng cảm thấy yêu thêm tâm hồn lạc quan, vui tươi, yêu đời của những người dân lao động. Dù cuộc sống có nghèo khó, thiếu thốn vật chất nhưng tình cảm luôn chan chứa nghĩa tình. Tiếng cười trong bài ca dao là tiếng cười nhẹ nhàng, cảm thông của người dân lao động dành cho đôi lứa yêu nhau

[Luyện tập] Câu 2: Tìm các bài ca dao hài hước phê phán thói lười nhác, lê la ăn quà,...

Tìm các bài ca dao hài hước phê phán thói lười nhác, lê la ăn quà, nghiện ngập rượu chè, tệ nạn tảo hôn, đa thê, phê pháp thầy bói thầy cúng, thầy phù thủy trong xã hội cũ.

Trả lời:

  • Có tiếng cười tự trào :

Chồng còng mà lấy vợ còng, 
Nằm phản thì chật nằm nong thì vừa.

Chồng hen mà lấy vợ hen,
Đêm nằm cò cử như kèn kéo đôi.

  • Có nội dung phê phán người đàn ông yếu đuối, lười nhác, thiếu chí khí:

Chú tôi hay tửu hay tăm
 Hay uống chè đặc hay nằm ngủ trưa
 Ban ngày thì muốn trời mưa
Ban đêm thì muốn cho thừa trống canh.

Chồng người bể Sở sông Ngô,
Chồng em ngồi bếp rang ngô cháy quần. 

Làm trai cho đáng nên trai,
Ăn cơm với vợ lại nài vét niêu.

Làm trai cho đáng nên trai
Vót đũa cho dài ăn vụng cơm con.

Cái bống cõng chồng đi chơi
 Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng
         Chị em ơi, cho tôi mượn cái gàu sòng
       Để tôi tát nước múc chồng tôi lên

  •  Phê phán thói rượu chè, cờ bạc: 

Rượu chè cờ bạc lu bù 
Hết tiền, đã có mẹ cu bán hàng.

  • Phê phán nạn tảo hôn:

Bồng bồng cõng chồng đi chơi,
Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng.
Chị em ơi! Cho tôi mượn cái gàu sòng,
Để tôi tát nước, múc chồng tôi lên.

  •  Phê phán thầy bói:

Bói cho một quẻ trong nhà
Con heo bốn cẳng, con gà hai chân.
Đem tiền đi bói ông thầy
Bói ra quẻ này, những chả cùng nem
Ông thầy nói dối đã quen
Nào tôi ăn chả, ăn nem bao giờ.”

  • Phê phán thầy địa lí:

Hòn đất mà biết nói năng,
Thì thầy địa lí hàm răng chẳng còn.

Bài soạn văn 10

@2018 ban quyền thuộc về baivan.net